Mà là vì Niệm Niệm đã cười.
Nửa đêm, tôi ở trong phòng lật xem những tấm ảnh của An An.
Những đoạn video quay lại lần đầu tiên con bé biết lẫy, lần đầu tiên biết chập chững đứng dậy, lần đầu tiên cất tiếng gọi mẹ.
Tôi áp chặt chiếc điện thoại vào lồng ngực, nước mắt cứ thế lặng lẽ tuôn rơi.
Ngoài cửa vang lên tiếng bước chân.
Dừng lại vài giây rồi lại xa dần.
Sáng hôm sau, trước cửa phòng tôi có đặt một ly sữa ấm.
Dưới đáy ly đè lên một mảnh giấy, nét chữ của Hoắc Nghiên:
“Không cần phải gánh vác một mình.”
Ba ngày sau, một chuyên gia tâm lý đến nhà.
Sau khi làm xong bài đánh giá cho Niệm Niệm, vị chuyên gia nhìn tôi thêm một lúc:
“Hoắc tiên sinh nhờ tôi làm cho cô một bản đánh giá luôn.”
“Tôi không cần đâu—”
“Cậu ấy nói, cô cần.”
Chứng trầm cảm sau sinh của tôi, chẳng biết anh đã nhìn ra từ lúc nào.
Nhưng anh không hề gặng hỏi.
Cũng chẳng hề bảo “cô có bệnh thì đừng có làm phiền thêm chuyện”.
Anh chỉ âm thầm sắp xếp bác sĩ, rồi sau đó chẳng nhắc lại một lời nào.
So với phản ứng kiểu “cô làm bộ làm tịch, cô vô lý gây sự, cô bé xé ra to” của gã chồng cũ—
Họ quả thực không cùng một giống loài.
Niệm Niệm đã đến tuổi đi học mẫu giáo.
Hoắc Nghiên phải tốn rất nhiều công sức mới đưa được con bé đến trường — sáng nào Niệm Niệm cũng ôm chặt lấy chân tôi không chịu buông, cho đến khi tôi hứa chắc nịch “tan học mẹ sẽ là người đầu tiên đến đón con”.
Có một hôm, cô giáo kéo tôi sang một góc, đưa cho tôi xem bức tranh của Niệm Niệm.
Đề tài bài tập là “Gia đình của em”.
Trên tờ giấy A4 vẽ bốn người.
Người cao nhất có mái tóc vẽ như lông nhím — là Hoắc Nghiên.
Bên cạnh là người buộc tóc đuôi ngựa — là tôi.
Phía trước có một đứa trẻ nhỏ đang nắm lấy tay tôi — là Niệm Niệm.
Ở ngoài rìa mép giấy còn có một người nhỏ xíu nữa, được tô bằng sáp màu hồng.
Cô giáo kể lại rằng Niệm Niệm nói với cô: “Đó là An An. Em gái con đấy. Em ấy sắp về nhà rồi.”
Tôi cầm bức tranh ấy đứng lặng ở hành lang rất lâu.
Một cô bé mới ba tuổi đầu, đã biết chừa lại một vị trí cho một người mà con bé chưa từng gặp mặt.
Chỉ vì người đó rất quan trọng đối với mẹ của con bé.
Ba năm ở nhà họ Cố, tôi đã sống những ngày tháng như thế nào cơ chứ?
Mẹ Cố ngày nào cũng gọi tôi dậy từ sáu giờ sáng để nấu bữa sáng.
Nấu xong phải hầu hạ cả nhà ăn, bản thân tôi thì chẳng kịp nuốt miếng nào, liền phải cắm đầu dọn dẹp vệ sinh, giặt giũ quần áo.
Buổi chiều bấm huyệt xoa bóp đầu gối cho mẹ Cố, sắc thuốc hạ huyết áp cho bố chồng, đi chợ mua thức ăn về nấu cơm tối.
Đến tối, đợi cả nhà ăn xong xuôi hết, tôi mới được ăn cơm thừa canh cặn.
Mẹ Cố từng nói một câu mà cả đời này tôi không bao giờ quên: “Cô không đi làm cũng chẳng kiếm ra tiền, ăn thì ăn nhiều hơn ai hết, có biết xấu hổ không hả?”
Lúc mang thai An An, tôi nôn nghén suốt một tháng trời.
Cố Trạch Viễn chê tôi phiền phức: “Cô có để yên cho người ta thở được không? Ngày nào cũng nôn với ọe, biến cái nhà này thành cái bệnh viện đấy à.”
Lúc sinh An An, tôi đau đớn trong phòng sinh suốt mười sáu tiếng đồng hồ.
Cố Trạch Viễn ở ngoài cửa cắm đầu chơi điện tử.
Y tá bước ra thông báo: “Sinh một bé gái.”
Ngoài hành lang lập tức vang lên tiếng chanh chua của mẹ Cố — “Con gái á? Sao lại là con gái? Bắt nó đẻ tiếp!”
Sau khi An An chào đời, nhà họ Cố đối với tôi từ thái độ “ghét bỏ” chuyển thẳng sang “căm thù”.
Mẹ Cố gặp ai cũng rêu rao: “Số con trai tôi khổ quá, lấy phải con vợ không biết đẻ.”
Cho đến một ngày, tôi nhìn thấy một sợi tóc dài không thuộc về mình rơi trên chính chiếc giường của hai vợ chồng.
Tôi đệ đơn ly hôn.
Họ thở phào nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng.
Chưa có bình luận cho chương này.